Tháng 12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định "trở về Tân Trào" và căn cứ địa Việt Bắc. Với địa thế hiểm yếu, phong trào cách mạng vững chắc và các vùng căn cứ được xây dựng trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Tuyên Quang trở thành căn cứ địa trung tâm của cuộc kháng chiến. Một lần nữa, Đảng bộ và đồng bào các dân tộc Tuyên Quang vinh dự, tự hào được bảo vệ Bác Hồ, Trung ương Đảng và Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận. Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã phát huy thế mạnh của một tỉnh tự do, mang tất cả tinh thần và lực lượng, cùng cả nước kháng chiến, đồng thời tích cực xây dựng, bảo vệ vững chắc các khu an toàn của Trung ương, bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến, tạo điều kiện cho các cơ quan Trung ương và đồng bào tản cư đến địa phương một cách thuận lợi, an toàn.
Trong thời gian ngắn, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận và hầu hết các bộ, ban, ngành, cơ quan trung ương đã di chuyển về Tuyên Quang, đóng trụ sở làm việc tại nhiều địa điểm để lãnh đạo cuộc kháng chiến.
Ngày 02/4/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở lại làng Sảo, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương (nay là xã Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang). Tại đây, ngày 03/4/1947, Người chủ trì cuộc họp của Trung ương Đảng quyết định những vấn đề chiến lược và sách lược của cuộc kháng chiến. Từ năm 1947- 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở, làm việc tại nhiều nơi trong tỉnh như: xã Tân Trào, xã Minh Thanh xã Sơn Dương, xã Trung Sơn, xã Vinh Quang (nay là xã Kim Bình)…., Người đã chủ trì nhiều cuộc họp quan trọng của Đảng, Chính phủ, soạn thảo và Tại Tuyên Quang và Chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành nhiều sắc lệnh, chỉ thị, văn kiện quan trọng để lãnh đạo công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Người có nhiều hoạt động thăm hỏi, động viên nhân dân, cán bộ, chiến sĩ, chăm lo bồi dưỡng lực lượng kháng chiến. Đây cũng là nơi Người đã viết nhiều bài báo và các tác phẩm nổi tiếng như: Đời sống mới, Sửa đổi lối làm việc, Lời kêu gọi thi đua ái quốc, Dân vận, Thường thức chính trị,.... thể hiện tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trở thành kim chỉ nam, ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam.
Từ ngày 11 đến 19/02/1951, Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng được tiến hành tại xã Vinh Quang (nay là xã Kim Bình, tỉnh Tuyên Quang). Đây là Đại hội đầu tiên của Đảng được tiến hành ở trong nước và là Đại hội duy nhất đến nay tổ chức ở địa phương (trong nước) ngoài Thủ đô Hà Nội. Dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho 766.349 đảng viên của Đảng[1]. Đại hội đã thông qua Báo cáo chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày; Báo cáo Luận cương cách mạng Việt Nam do đồng chí Trường Chinh trình bày. Đại hội thông qua những văn kiện quan trọng: Tuyên ngôn, Chính cương và Điều lệ Đảng. Đại hội quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam, Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 19 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự khuyết, Ban Chấp hành đã cử ra Bộ Chính trị gồm có 7 ủy viên chính thức và 01 ủy viên dự khuyết, Tổng Bí thư là đồng chí Trường Chinh, đại hội suy tôn đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Đảng[2]. Đối với cách mạng Lào và cách mạng Campuchia, Đại hội quyết định sẽ tổ chức ở mỗi nước một Đảng cách mạng riêng phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của cách mạng từng nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đại hội II là Đại hội đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi và xây dựng Đảng Lao động Việt Nam.
Trong những năm 1951 - 1953, Tuyên Quang là nơi diễn ra nhiều đại hội và hội nghị quan trọng của Trung ương Đảng, Chính phủ, Mặt trận, như: Ngày 03/3/1951, Đại hội thống nhất Việt Minh - Liên Việt thành một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi lấy tên là Mặt trận Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Mặt trận Liên - Việt) nhằm củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Ngày 11/3/1951, Hội nghị liên minh nhân dân ba nước Việt - Miên - Lào được tổ chức. Từ ngày 01 đến ngày 05/5/1952, Đại hội các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc. Từ ngày 01 đến 04/12/1953 đã diễn ra Kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa I...
Trong tình thế cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược gặp vô vàn khó khăn, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều chủ trương, chỉ đạo hoạt động ngoại giao, mở rộng quan hệ quốc tế, như: Bí mật thăm Trung Quốc (tháng 01/1950), Liên Xô (tháng 02/1950); thiết lập liên minh chiến đấu ba nước Đông Dương; tổ chức các hoạt động tiếp xúc, gặp gỡ các chuyên gia quân sự, chính khách, nhà báo quốc tế... Qua đó, xây dựng, mở rộng quan hệ với các nước và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.
Tại Tuyên Quang, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, cùng Bộ Tổng chỉ huy Quân đội đã chỉ đạo nhiều chiến dịch lớn, xoay chuyển cục diện chiến tranh, như: Chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông năm 1947, Chiến dịch Biên giới năm 1950, Chiến dịch Hòa Bình - Đông Xuân năm 1951 - 1952… Đặc biệt, tại xã Kim Quan, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã diễn ra cuộc họp chỉ đạo cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954, mà đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang, tự hào đã làm tròn sứ mệnh thiêng liêng, cao cả của mình bảo vệ Bác Hồ, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước, các tiền bối cách mạng, các cơ quan Trung ương trong cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ của dân tộc; thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của một tỉnh hậu phương, An toàn khu, trung tâm căn cứ địa của cả nước, góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Phát huy truyền thống "Thủ đô Kháng chiến" vẻ vang, Tuyên Quang hôm nay đang mạnh mẽ vươn mình, biến niềm tự hào lịch sử thành động lực phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế và đẩy mạnh liên kết vùng, trở thành một trong các cực tăng trưởng quan trọng của vùng trung du và miền núi Bắc Bộ; xây dựng Tuyên Quang trở thành tỉnh phát triển khá, toàn diện, bao trùm và bền vững trong vùng trung du và miền núi phía Bắc, ngày càng giàu đẹp, văn minh, Nhân dân hạnh phúc, xứng đáng với tầm vóc của một vùng đất giàu truyền thống cách mạng mà lịch sử đã trao cho Tuyên Quang.
[1] Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2008, tr.124.
[2] Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 1 (1930-1954), quyển 2 (1945-1954), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 337-339.
Nguồn: Đảng ủy UBND tỉnh Tuyên Quang