Qua rà soát 4 tài liệu biểu đồ chạy xe được lập từ dữ liệu Excel, hệ thống ghi nhận khoảng 491 tuyến vận tải khách cố định với tổng quy mô đăng ký lên tới hơn 83.000 chuyến/tháng. Trong số này, lượng chuyến đã có đơn vị đăng ký khai thác đạt khoảng 16.900 chuyến/tháng, trong khi số chuyến chưa có đơn vị khai thác lên tới hơn 55.000 chuyến/tháng.
Các con số cho thấy mạng lưới tuyến đã được quy hoạch khá rộng, bao phủ nhiều hướng kết nối từ Tuyên Quang, Hà Giang tới các tỉnh, thành trong khu vực phía Bắc và một số tuyến dài hơn đi miền Trung, miền Nam. Tuy nhiên, mức độ tham gia của doanh nghiệp vận tải chưa đồng đều, tạo ra khoảng trống cung ứng đáng kể trên nhiều hành lang vận tải.
Nhiều tuyến có quy hoạch nhưng chưa có nhà xe theo dữ liệu trích xuất, nhiều tuyến ghi nhận tình trạng 0 chuyến đã có đơn vị đăng ký khai thác, trong khi toàn bộ sản lượng tuyến vẫn còn để trống. Đây là nhóm tuyến thể hiện rõ nhất sự chênh lệch giữa quy hoạch tuyến và năng lực hoặc nhu cầu khai thác thực tế của doanh nghiệp.
Một số ví dụ đáng chú ý gồm:
Tuyên Quang – Lạng Sơn, bến đến Phía Nam Lạng Sơn: 270 chuyến/tháng chưa có đơn vị khai thác.
Tuyên Quang – Quảng Ninh, bến đến Cẩm Hải: 240 chuyến/tháng chưa có đơn vị khai thác.
Tuyên Quang – Hải Phòng, bến đến Bắc Hải Phòng: 150 chuyến/tháng chưa có đơn vị khai thác.
Tuyên Quang – Ninh Bình, một số điểm đến như Khánh Thành, Kim Đông: mỗi tuyến khoảng 150 chuyến/tháng chưa khai thác.
Tuyên Quang – Sơn La, bến đến TP Sơn La: 420 chuyến/tháng chưa có đơn vị khai thác.
Tuyên Quang – Lai Châu, bến đến TP Lai Châu: 390 chuyến/tháng chưa có đơn vị khai thác.
Điều này cho thấy thị trường vận tải khách cố định vẫn còn nhiều “ô trống”, đặc biệt ở các tuyến liên tỉnh có cự ly trung bình và dài.
Ninh Bình, Hải Phòng, Thái Nguyên dẫn đầu về số chuyến còn trống
Khi gom theo nhóm điểm đến, các tuyến liên quan đến Ninh Bình có số lượng chuyến chưa khai thác lớn nhất, ước khoảng 8.894 chuyến/tháng. Tiếp theo là Hải Phòng với khoảng 7.616 chuyến/tháng, Thái Nguyên với khoảng 6.810 chuyến/tháng, Bắc Ninh với khoảng 3.935 chuyến/tháng, Nghệ An với khoảng 3.219 chuyến/tháng.
Các nhóm tuyến có lượng chuyến chưa khai thác lớn gồm:
Ninh Bình: khoảng 8.894 chuyến/tháng chưa khai thác
Hải Phòng: khoảng 7.616 chuyến/tháng
Thái Nguyên: khoảng 6.810 chuyến/tháng
Bắc Ninh: khoảng 3.935 chuyến/tháng
Nghệ An: khoảng 3.219 chuyến/tháng
Quảng Ninh: khoảng 3.210 chuyến/tháng
Lào Cai: khoảng 3.003 chuyến/tháng
Phú Thọ: khoảng 2.975 chuyến/tháng
Hà Nội: khoảng 2.406 chuyến/tháng
Hưng Yên: khoảng 2.045 chuyến/tháng
Trong đó, Ninh Bình là nhóm tuyến có số lượng điểm đến nhiều nhất trong dữ liệu, với khoảng 82 tuyến. Hải Phòng cũng là nhóm tuyến lớn, khoảng 56 tuyến, tiếp theo là Thái Nguyên, Bắc Ninh, Phú Thọ, Hà Nội, Lào Cai, Quảng Ninh, Hưng Yên và Nghệ An.
Tuyến ngắn nội vùng vẫn còn nhiều dư địa
Không chỉ các tuyến dài, nhiều tuyến ngắn hoặc tuyến nội vùng cũng có lượng chuyến chưa khai thác lớn. Ví dụ:
Chiêm Hoá – Nà Hang: tổng quy mô 600 chuyến/tháng, trong đó khoảng 540 chuyến chưa khai thác.
Tuyên Quang – Nà Hang: tổng quy mô lớn, còn khoảng 504 chuyến chưa khai thác.
Tuyên Quang – Chiêm Hoá: còn khoảng 319 chuyến chưa khai thác.
Hà Giang – Tuyên Quang: còn khoảng 450 chuyến chưa khai thác.
Đây là nhóm tuyến có ý nghĩa lớn với nhu cầu đi lại hằng ngày của người dân, đặc biệt ở khu vực miền núi, nơi phương tiện cá nhân không phải lúc nào cũng thuận tiện và chi phí di chuyển vẫn là vấn đề đáng quan tâm.
Một số tuyến đã được khai thác kín bên cạnh các tuyến còn trống, dữ liệu cũng ghi nhận nhiều tuyến đã có doanh nghiệp đăng ký khai thác toàn bộ số chuyến. Chẳng hạn:
Tuyên Quang – Hải Phòng, bến đến Kiến Thuỵ: 30/30 chuyến/tháng đã khai thác.
Tuyên Quang – Hưng Yên, bến đến Hưng Hà: 30/30 chuyến/tháng.
Tuyên Quang – Sơn La, bến đến Mường La: 60/60 chuyến/tháng.
Tuyên Quang – Hà Nội, bến đến Mỹ Đình từ Chiêm Hoá: 330/330 chuyến/tháng.
Hà Giang – Quản Bạ: 150/150 chuyến/tháng.
Hà Giang – Yên Minh: 150/150 chuyến/tháng.
Các tuyến này cho thấy những hành lang có nhu cầu ổn định hoặc có tính khả thi thương mại cao hơn, đủ hấp dẫn để doanh nghiệp vận tải tham gia.
Khoảng cách giữa quy hoạch và thị trường từ dữ liệu biểu đồ chạy xe, có thể thấy bài toán lớn không chỉ là mở tuyến, mà là làm sao để tuyến có thể vận hành thực tế. Một tuyến được quy hoạch với số chuyến lớn nhưng không có đơn vị đăng ký khai thác có thể phản ánh nhiều nguyên nhân:
Nhu cầu hành khách thực tế chưa đủ mạnh. Cự ly tuyến dài, chi phí vận hành cao. Khung giờ, hành trình hoặc điểm đầu cuối chưa hấp dẫn doanh nghiệp. Cạnh tranh từ xe hợp đồng, xe cá nhân, xe ghép. Hạ tầng bến bãi, điểm dừng, kết nối trung chuyển chưa thuận tiện. Doanh nghiệp vận tải thiếu phương tiện hoặc nhân lực.
Đáng chú ý, nhiều tuyến có cự ly dài như Tuyên Quang – Nghệ An, Tuyên Quang – Sơn La, Tuyên Quang – Lai Châu, Tuyên Quang – Quảng Ninh… vẫn còn số chuyến trống lớn. Đây có thể là nhóm cần đánh giá lại tính khả thi thương mại, nhu cầu thực tế và khả năng gom khách theo mùa vụ.
Cơ hội cho doanh nghiệp vận tải ở chiều ngược lại, lượng chuyến chưa khai thác lớn cũng cho thấy dư địa thị trường cho các doanh nghiệp, hợp tác xã vận tải nếu lựa chọn đúng tuyến, đúng khung giờ và đúng mô hình vận hành.
Các tuyến có thể đáng chú ý gồm:
Tuyến kết nối trung tâm tỉnh với các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên.
Tuyến kết nối khu công nghiệp, khu du lịch, trung tâm huyện.
Tuyến nội tỉnh, liên huyện có nhu cầu đi lại thường xuyên.
Tuyến vùng núi phục vụ dân sinh, học tập, khám chữa bệnh, giao thương.
Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả, doanh nghiệp cần đánh giá kỹ lưu lượng hành khách, chi phí nhiên liệu, thời gian quay đầu xe, năng lực bến bãi và khả năng kết nối với các tuyến khác.
Cần cập nhật dữ liệu và rà soát biểu đồ chạy xe
Một điểm cần lưu ý là dữ liệu từ các biểu đồ chạy xe có dấu hiệu sai lệch định dạng ở một số dòng, do tài liệu được xuất từ Excel sang PDF. Một số con số có thể bị dính ký tự hoặc lặp mã tuyến, ví dụ các trường hợp hiển thị “1111 B”. Vì vậy, trước khi dùng làm căn cứ điều hành hoặc công bố chính thức, cần rà soát lại bản Excel gốc hoặc cơ sở dữ liệu quản lý tuyến.
Dù vậy, bức tranh tổng thể vẫn khá rõ: mạng lưới tuyến rất rộng, nhưng tỷ lệ chuyến chưa có đơn vị đăng ký khai thác còn lớn. Đây là tín hiệu cần được cơ quan quản lý, bến xe và doanh nghiệp vận tải cùng xem xét.
Dữ liệu cho thấy vận tải khách cố định tại khu vực Tuyên Quang, Hà Giang và các tuyến liên tỉnh liên quan đang đứng trước hai vấn đề song song: một mặt, quy hoạch tuyến phong phú, bao phủ nhiều địa bàn; mặt khác, mức độ khai thác thực tế chưa tương xứng.
Hơn 55.000 chuyến/tháng chưa có đơn vị khai thác là con số đáng chú ý. Nó vừa phản ánh khoảng trống dịch vụ vận tải, vừa cho thấy cơ hội thị trường nếu các tuyến được tổ chức lại hợp lý hơn.
Trong giai đoạn tới, việc rà soát biểu đồ chạy xe, cập nhật nhu cầu đi lại thực tế, điều chỉnh tần suất và khuyến khích doanh nghiệp tham gia các tuyến còn trống sẽ là yếu tố quan trọng để nâng hiệu quả mạng lưới vận tải khách cố định.
